Chuyên mục: Giun – Sán

Tháng Bảy 21, 2017

Abstract The objective of this study was to assess the presence of anti-Trichinella IgG in the serum of personsfrom ethnic minorities from northwest Vietnam with clinical signs and symptoms that are compatiblewith trichinellosis. A total of 645 persons were enrolled, of which 200 people lived in two villages whereoutbreaks of human trichinellosis had been documented in 2004 and 2008, and 445 people who werehospitalized in the Dien Bien and Son La provincial hospitals without a definitive diagnosis. Presence ofanti-Trichinella IgG was demonstrated in serum samples by a standardized Enzyme-linked Immunosor-bant Assay (ELISA); positive serum samples were subjected to Western blot (WB) for confirmation. Seven(3.5%; 95% CI: 1.4–7.1) persons from the villages and seven (1.6%; 95% CI: 0.6–3.2) hospitalized patients,tested positive by both ELISA and WB. Fever (N = 13), eosinophilia (N = 12), myalgia (N = 9), facial edema(N = 9) and leukocytosis (N = 8) were the most common clinical signs and symptoms in the serologicallypositive persons. The concomitant occurrence of facial edema and myalgia among the enrolled personsfrom the villages, accounted for 75% of the positive predictive value (PPV) and 99.5% of the negative pre-dictive value (NPV), suggesting that they could be used for suspecting trichinellosis when serology is notavailable. The high prevalence (1.6–3.5%) o

Tháng Bảy 20, 2017

The current status of opisthorchiasis and clonorchiasis in the Mekong Basin

A b s t r a c t This review highlights the current status and control of liver fluke infections in the Mekong Basin countries where Opisthorchis and Clonorchis are highly endemic. Updated data on prevalence and distribution have been summarized from presentations in the “96 Years of Opisthorchiasis. International Congress of Liver Flukes”. It is disturbing that despite treatment and control programs have been in place for decades, all countries of the Lower Mekong Basin are still highly endemic with O. viverrini and/or C. sinensis as well as alarmingly high levels of CCA incidence. A common pattern that is emerging in each country is the difference in transmission of O. viverrini between lowlands which have high prevalence versus highlands which have low prevalence. This seems to be associated with wetlands, flooding patterns and human movement and settlement. A more concerted effort from all community, educational, public health and government sectors is necessary to successfully combat this fatal liver disease of the poor. Toàn văn Download tại đây: http://www.mediafire.com/file/y9g0y8vo9k0ia
Tháng Bảy 20, 2017

Ấu trùng của Brugia malayi (một trong những loài giun chỉ gây bệnh phù chân voi) phát triển trong cơ thể muỗi đến giai đoạn 3. Sau đó ấu trùng được truyền sang người khi muỗi đốt. Giun trưởng thành sống và kết đôi trong hệ bạch huyết, con non sinh ra được đưa vào máu, chờ vào cơ thể muỗi. Các nghiên cứu trước đây về bệnh giun chỉ bạch huyết chủ yếu tập trung vào vai trò của các protein tiết hoặc protein bề mặt của kí sinh trùng trong quá trình điều biến đáp ứng của vật chủ. Tuy nhiên, một nghiên cứu gần đây cho thấy, những RNA nhỏ không mã hóa cũng có thể tham gia vào quá trình này. Chu kì của giun chỉ bạch huyết Brugia malayi Các nhà nghiên cứu tiến hành trên ấu trùng giai đoạn 3 và giun trưởng thành để xem liệu chúng có sản xuất những túi ngoại bào hay không. Và họ phát hiện thấy rằng những ấu trùng giai đoạn 3 giải phóng những túi nhỏ chứa nhiều microARN – là những đoạn ARN nhỏ không mã hóa dùng để điều hòa biểu hiện gen. Một số microRNA giống với những microRNA được vật chủ sử dụng. Người ta cho rằng những ARN nhỏ này trợ giúp cho ấu trùng giai đoạn 3 gây nhiễm dễ dàng hơn. Phân tích thành phần trong những túi nhỏ, người ta thấy ngoài những protein đặc trưng của exosome ra còn có những protein có khả năng gắn vào những phân tử