Bệnh sán lá gan lớn (Fasciola hépatica)

Tháng Bảy 28, 2017
  1. Sán lá gan lớn Fasciola hépatica được biết đến từ thế kỉ XVIII. Sán này thường kí sinh trong các ống mật và gây bệnh chủ yếu về gan ở các động vật nhai lại như trâu, bò…., ít kí sinh và gây bệnh ở người. Sán lá gan lớn còn có thể di chuyển lạc chỗ tới kí sinh ở nhiều vị trí khác nhau trong cơ thể của vật chủ như phúc mạc, tĩnh mạch hay tổ chức dưới da… Ngoài Fasciola hepatica còn có Fasciola gigantica gây bệnh cho người.
  2. Biểu hiện lâm sàng:Khó biết nếu không có triệu chứng lâm sàng, hoặc nghèo triệu chứng. Các triệu chứng lâm sàng cũng thường không rầm rộ như các loại apxe gan khác.

    * Các triệu chứng cơ năng:

    + Đau bụng: thường đau âm ỉ, không rõ vị trí

    + Đau hạ sườn phải: đau nhẹ, ít khi đau dữ dội, chiếm 70-80 % các trường hợp

    + Rối loạn tiêu hoá: ỉa chảy, phân nát, chán ăn

    * Các triệu chứng toàn thân:

    + Mệt mỏi: rất hay gặp

    + Sốt: có thể sốt cao, hoặc chỉ sốt nhẹ, sốt rất thường gặp ở 60-70% bệnh nhân.

    + Dị ứng da: gặp ở 20-30 % bệnh nhân, biểu hiện các nốt sẩn trên da gặp chủ yếu ở đùi, mông, lưng, cảm giác ngưa, bút rứt, khó chịu…

    * Các triệu chứng khác ít gặp:

    – Ho kéo dài, đau tức ngực

    – Vàng da: thường gặp khi sán di chuyển vào đường mật và phát triển ở đấy gây viêm đường mật.

    * Khám thực thể:

    + Gan to: chỉ to khoảng 2-3 cm dưới bờ sườn, ấn hạ sườn đau hoặc ấn kẽ sườn đau, gan to chỉ gặp trong 20% trường hợp.

    + Lách to: rất ít gặp

    + Túi mật: không bao giờ to.

  3. Cận lâm sàng:– Công thức máu: bạch cầu tăng, thiếu máu nhẹ, đặc biệt bạch cầu ái toan tăng cao, gặp trong 90% trường hợp

    – Trứng sán trong phân: chỉ khi nào sán chui vào đường mật và đẻ trứng ở đấy mới tìm thấy trứng sán trong phân, ngay cả trong trường hợp này cũng không phải 100% trường hợp tìm thấy vì sán lá gan lớn đẻ trứng ít, do đó phải tìm nhiều lần (3 lần liên tiếp), cần chú ý dễ nhầm với trứng các loại giun sán khác. Có trường hợp phải hút dịch tá tràng mới tìm thấy trứng.

    – Chức năng gan; transaminase có thể tăng nhưng chỉ 2-3 lần. Tỷ lệ người có transaminase tăng rất thấp.

    – Phản ứng miễn dịch: phương pháp đơn giản và đáng tin cậy nhất là phương pháp ELISA. Khi sán xâm nhập nhu mô gan chúng tiết ra nhiều kháng nguyên nhất, 2 tuần sau bắt đầu xuất hiện kháng thể đó là các IgG và IgE. Ngoài những phương pháp ELISA còn có các phương pháp khác như ngưng kết hồng cầu, điện di miễn dịch nhưng độ nhậy và độ đặc hiệu thấp. Cần lưu ý 6 tháng sau khi khỏi bệnh ELISA vẫn còn dương tính. 12 tháng sau mới hết hẳn.

    – Chẩn đoán hình ảnh:

    + Siêu âm bụng: được áp dụng phổ biến nhất. Siêu âm phát hiện tổn thương gan như một vùng giảm âm không đồng nhất, ranh giới không rõ, vị trí hay gặp ở vùng rìa sát vỏ gan, hoặc nhiều đám giảm âm không đồng nhất tập trung thành một đám lớn.

    + Chụp cắt lớp vi tính: hình ảnh cũng giống như siêu âm. Điển hình nhất là một vùng lỗ chỗ như tổ ong. Nằm ở vùng rìa sát vỏ gan. Nếu sán đã chui vào đường mật thì có thể thấy hình ảnh đường mật giãn cục bộ, thành dày, trong đó có hình tăng tỷ trọng của sán. Đa số các ổ tổn thương gan đều nằm ở gan phải.