Bệnh do Amip ( Entamoeba histolytica)

Tháng Bảy 31, 2017

Bệnh do amip là bệnh nhiễm đơn bào Entamoeba histolytica, bệnh gây tổn thương đặc trưng là loét ở niêm mạc đại tràng và có khả năng gây ra các ổ áp xe ở những cơ quan khác nhau (gan, não…). Bệnh có xu hướng kéo dài và mạn tính nếu không được điều trị tích cực. Khoảng 90% các trường hợp nhiễm amip là không có triệu chứng

Biểu hiện

Lâm sàng
Biểu hiện tùy thuộc vào thể bệnh, tùy thuộc vào vị trí
Bệnh amíp ruột (bệnh lỵ amíp)
Bệnh amip ruột là thể lâm sàng cơ bản của bệnh do E. histolytica gây ra. Theo tiến triển của bệnh amip ruột có thể chia ra các thể sau:
Lỵ amip cấp tính:
Mệt mỏi, chán ăn, chóng mặt, đau bụng…
Bệnh nhân lỵ amip thường cảm thấy sức khoẻ tương đối bình thường, hôi chứng nhiễm trùng, nhiễm độc không rõ ràng, bệnh nhân thường không có sốt hoặc sốt rất nhẹ, bạch cầu không tăng.
Toàn phát:
Hội chứng lỵ gồm 3 triệu chứng chủ yếu là:
  • Đau quặn bụng: Bệnh nhân lỵ amip thường đau bụng quặn từng cơn ở vùng hố chậu phải (tương ứng với vùng hồi manh tràng). ở những trường hợp bệnh kéo dài có thể thấy đau cả vùng 2 hố chậu (tổn thương tới đại tràng xích ma và trực tràng).
  • Mót rặn và đi ngoài “giả”: Bệnh nhân thường xuyên cảm giác mót rặn sau mỗi cơn đau quặn, đi ngoài phải rặn nhiều và nếu kéo dài có thể dẫn tới biến chứng trĩ hoặc sa niêm mạc trực tràng. ở bệnh nhân lỵ amip thường thấy đi ngoài “giả” tức là rất mót đi ngoài nhưng lại không có phân, khác hẳn ở lỵ trực khuẩn mót đi ngoài thì thường ít nhiều đều có phân.
  • Đi ngoài nhiều lần, phân nhầy máu: Số lần đi ngoài ở bệnh nhân lỵ amip thường từ 4-10 lần/ngày, ít khi đi ngoài nhiều lần như lỵ trực khuẩn. Lúc đầu phân thường lỏng, có bã phân nhưng những ngày sau phân chỉ còn nhầy trong như nhựa chuối và máu. Nhầy và máu thường riêng rẽ chứ không hoà lẫn với nhau như ở lỵ trực khuẩn.
Lỵ amip mạn tính:
Lỵ amip cấp tính thường kéo dài 4-6 tuần, nếu không được điều trị đặc hiệu thì sẽ chuyển sang mạn tính hầu như là quy luật. Sau thời kỳ cấp tính dù không được điều trị bệnh nhân cũng cảm thấy đỡ dần, số lần đi ngoài giảm dần như có xu hướng khỏi. Tuy vậy bệnh vẫn diễn biến âm ỉ mạn tính và sẽ có những đợt tái phát cấp tính.
Biến chứng ở ruột do lỵ amip:
  • Viêm phúc mạc do thủng ruột: Là biến chứng nguy hiểm và khó chẩn đoán bởi vì thường diễn ra từ từ và không điển hình. Viêm phúc mạc có thể toàn bộ hoặc khu trú ở vùng hố chậu phải do đó dễ nhầm với thủng ruột thừa. Thể khu trú có thể chuyển thành viêm phúc mạc dính mạn tính hoặc viêm quanh manh tràng mạn tính.
  • U amip (ameboma) đại tràng: Là biến chứng hiếm gặp. Vị trí u thường ở manh tràng hoặc đại tràng lên, hiếm gặp hơn có thể thấy ở đại tràng góc gan và góc lách. Kích thước u đôi khi lớn gây hẹp hoặc tắc lưu thông đại tràng. Tuy vậy, khi được điều trị đặc hiệu diệt amip thì u amip cũng giảm nhanh và mất đi.
  • Polip đại tràng do lỵ amip: Là u tuyến (adenoma) lành tính kích thước to nhỏ khác nhau, phát triển ở phần niêm mạc đại tràng.
  • Chảy máy ruột do lỵ amip: Chảy máu ruột thường gặp ở bệnh nhân lỵ amip cấp hoặc những đợt tái phát của lỵ amip mạn tính. Tuy vậy biến chứng này chỉ gặp ở 0,5% số bệnh nhân lỵ amip mà thôi.
  • Sa niêm mạc trực tràng do lỵ amip: Đây cũng là biến chứng hiếm gặp và thấy ở bệnh nhân lỵ amip mạn tính tái phát nhiều lần.
Viêm ruột thừa do amip: Là biến chứng hiếm gặp nhưng nặng và nếu không được điều trị đặc hiệu thì tỷ lệ tử vong rất cao.
Bệnh amip ngoài ruột
Bệnh amip gan:
Amip có thể tới gan và gây ra viêm gan amip hoặc áp xe gan do amip.
Viêm gan do amip:
Viêm gan cấp do amip thường xảy ra cùng với những bệnh cảnh lâm sàng của lỵ amip.
Bệnh nhân cảm thấy đau tức ở vùng hạ sườn phải. Khám sẽ phát hiện thấy gan to, sốt nhẹ hoặc sốt vừa, ít khi thấy vàng da. Xét nghiệm máu có thể thấy bạch cầu tăng vừa. Nếu không được điều trị đặc hiệu, viêm gan do amip thường chuyển thành áp xe gan do amip.
Áp xe gan do amip:
Triệu chứng luôn luôn có ở bệnh nhân áp xe gan do amip là gan to và đau ở vùng gan. Dấu hiệu Ludlow (+) ở đa số bệnh nhân. Đau tăng khi thở sâu hoặc khi nằm nghiêng phải. Bệnh nhân thường sốt cao, có thể sốt cơn không có chu kỳ, sốt có cơn rét run, vã mồ hôi. Tình trạng nhiễm độc thể hiện rõ: Mệt mỏi, phờ phạc, mặt hốc hác, da xanh tái.
ở một số bệnh nhân áp xe gan do amip xuất hiện vàng da, bụng chướng, thở nhanh nông.
Xét nghiệm máu thường có bạch cầu tăng cao và công thức bạch cầu chuyển trái. Tốc độ máu lắng tăng cao, men gan tăng. Nếu ổ áp xe gần với mặt trên gan sẽ gây kích thích phế mạc, chiếu X quang thấy giảm di động cơ hoành, thậm chí có thể tràn dịch màng phổi. Siêu âm gan thấy ổ loãng siêu âm. áp xe gan do amip thường ít ổ, ổ lớn và chủ yếu ở thuỳ gan phải.
Bệnh amip phổi:
Amip có thể tới phổi theo đường máu hoặc các ổ áp xe gan sát với mặt trên vỡ gây thủng cơ hoành, mủ tràn lên phổi gây viêm phổi, màng phổi hoặc áp xe do amip.
Viêm phổi – màng phổi do amip:
  • Bệnh nhân xuất hiện đau ngực, ho khan hoặc có đờm đặc đôi khi dính máu.
  • Sốt nhẹ hoặc không sốt. Nghe phổi có ran nổ nhỏ hạt.
  • X quang phổi thấy những đám thâm nhiễm.
  • Xét nghiệm máu ngoại vi thấy bạch cầu tăng, trong đó bạch cầu ái toan (E) tăng, tốc độ máu lắng tăng.
  • Nếu bệnh nhân không được điều trị đặc hiệu, viêm phổi – màng phổi sẽ chuyển thành áp xe phổi do amip.
Áp xe phổi do amip:
Bệnh thường tiến triển mạn tính. Bệnh nhân sốt nhẹ sốt vừa hoặc sốt cao, sốt dao động. Ho nhiều đờm màu sôcôla. Soi đờm có thể thấy E. histolytica. X quang phổi sẽ thấy những ổ tổn thương có mức dịch ngang.
áp xe phổi do amip có thể dẫn tới viêm mủ màng phổi, tràn mủ – khí, dò thông gan phổi.
Áp xe não do amip:
E. histolytica từ ruột vào vòng tuần hoàn lớn tới não gây ra các ổ áp xe ở 2 bán cầu đại não. Bệnh nhân có hội chứng tăng áp lực nội sọ: Đau đầu dữ dội, nôn và buồn nôn, hội chứng nhiễm trùng nhiễm độc ở từng mức độ khác nhau. Các triệu chứng thần kinh phụ thuộc vào vị trí tổn thương ở não.
Áp xe do amip ở một số cơ quan khác:
áp xe lách, áp xe thận, áp xe cơ quan sinh dục nữ… có thể gặp nhưng rất hiếm.
Amip da:
  • Amip da là bệnh lý thứ phát.
  • Tổn thương da thường thấy ở vùng quanh hậu môn, tầng sinh môn tạo thành những đám đỏ da, sau thành những vết loét.
  • Amip còn có thể tạo nên các lỗ dò quanh gan hoặc gần những vết mổ áp xe gan, phổi.
Chẩn đoán bệnh do amip
  • Hội chứng lỵ là hội chứng cơ bản trong bệnh do amip với các triệu chứng sau: Đau bụng dọc khung đại tràng nhất là vùng manh tràng, đại tràng lên, mót rặn.
  • Đi ngoài xong đỡ đau, phân có nhầy trong và máu, nhầy và máu riêng rẽ.
  • Số lần đi ngoài 4-10 lần trong ngày, có lần đi ngoài “giả”.
  • Hội chứng nhiễm trùng nhiễm độc không rõ ràng.
  • Bệnh nhân có thể sốt nhẹ, sốt thất thường trong ngày hoặc không sốt, các triệu chứng nhiễm độc nhẹ, không rõ ràng.
  • Căn cứ dịch tễ : Tiếp xúc với người bị bệnh, trong gia đình, cùng bếp ăn có người bị bệnh, sống trong vùng đang có dịch lưu hành, ăn thức ăn nghi bị ô nhiễm amíp lỵ.
  • Căn cứ xét nghiệm: Chẩn đoán quyết định phải dựa vào việc xác định E. histolytica ở trong phân, mủ các ổ áp xe của bệnh nhân. Phương pháp thông thường nhất là lấy bệnh phẩm soi tươi trên kính hiển vi quang học (phải soi ngay khi mới lấy bệnh phẩm). Ngoài ra có thể ứng dụng phương pháp miễn dịch huỳnh quang, phản ứng kết hợp bổ thể hoặc nuôi cấy amip ở môi trường nhân tạo và cấy truyền bệnh cho động vật thực nghiệm (mèo, chuột…).
Để xác định những ổ áp xe hoặc u amip có thể làm siêu âm gan, thận, X quang phổi, não, chụp cắt lớp vi tính (CT. Scanner).
Trong trường hợp áp xe gan, thận, phổi có thể chọc hút sẽ thấy mủ màu sôcôla. Tìm E. histolytica và tinh thể Charcot-Leyden trong phân hoặc dịch mủ của ổ áp xe.